Nụ cười nói lên tất cả !


Lương tâm là tiếng thì thầm của Thượng đế trong mỗi lòng chúng ta.

 

CHẨN ĐOÁN ĐAU DO NHA CHU

CHẨN ĐOÁN ĐAU DO NHA CHU

Theo Mitchell va hasler, gần 15% bệnh nhân  xử trí khẩn cấp đau vùng miệng là do vấn đề nướu hay nha chu.

  1. Chấn thương mô nha chu ( periodontal ttrauma parodontal)

_ Bệnh căn :

. Phục hình quá cao

.Thói quen xấu

. Răng chịu lực nhai quá tải.

_ Lâm sàng:

Cấp tính :

. Đau dữ dội lúc nhai và lúc gõ ngang.

. Răng còn sống, và đôi khi nhạy cảm với nóng và lạnh

. Thường gặp lung lay đáng kể, cũng như mòn măt răng

Mạn tính: Đau mơ hồ hơn, và tại vùng, hiếm khi nào răng hoàn toàn không có triệu chứng.

_ Phim tia X:

. Dày dây chằng nha chu

. Lực ngang gây tiêu xương vùng cổ răng và vùng chóp răng.

. Lực dọc gây tiêu xương vùng chóp hay vùng trẻ.

. Có thể quá triển cement

  1. Nha chu viêm:

_ Bệnh căn: mảng bám răng, và những yếu tố tại chỗ. Đau khi chôn vùi thức ăn trong túi nha chu.

_Lâm sàng:

+ Đau mơ hồ, khó định vị

+ Túi nha chu ( dùng cây đo túi)

+ Gõ (+)

+ Test điện (+)

+ Thường ở chân trong của răng hàm trên

_ Phim tia X: có thể (-) do chập các cấu trúc giải phẩu học

  1. Hội chứng vách giữa răng:

_ Bệnh căn : do chôn vùi thức ăn (foulage d’ aliments) ở mô nha chu vùng kẽ răng

_ Lâm sàng:

Đau liên tục tại vùng, kèm theo nhạy cảm khi nhai hay khi gõ. Sự vùi thức ăn có thể tách nhẹ răng .Nguyên nhân gây đau không phải từ nướu mà là do dây chằng nha chu.

Răng sống, test nóng, lạnh(-)

  1. Áp-xe nha chu: (periodontal abscess, abscès parodontal)

_ Bệnh căn: Vi khuẩn, dị vật, bít kín sự dẫn lưu trong túi nha chu

_Lâm sàng:

Sưng đau nướu và lỗ dò

Hiện diện túi nha chu và chảy mũ khi thăm dò túi.

Răng gõ (+) và test nhiệt (-). Đôi khi lộ bề mặt chân răng khiến răng nhạy cảm khi thay đổi nhiệt độ.

Test điện (+)

Phim tia X:

Cấp ( - ) Với thời gian, mỏng dần laminadura, rồi có 1 vùng thấu quang giới hạn không rõ, có thể đến vùng chóp khi túi nha chu sâu.

Đôi khi, tổn thương mặt ngoài, hay mặt trong, có thể thấy 1 bóng thấu quang chập lên chân răng tạo dạng bán nguyệt (semi-lune)

  1. Áp-xe nướu (gingival abscess, abcès gingivale)

Bệnh căn: thường do dị vật lọt vào nướu

Lâm sàng: sưng đỏ đau nướu, phập phều (mủ)

Chỉ có túi nướu, không có túi nha chu, không tiêu xương.

  1. Viêm quanh thân răng ( periocoronaritis, péricoronarite)

- Bệnh căn:

  1. Tích tụ mảnh vụn thức ăn và vi khuẩn dưới nướu trùm của răng đang mọc. Thường ở răng 8 (Tai biến mọc răng khôn).
  2. Yếu tố thuận lợi:
  • Chấn thương mản tính của răng đối diện
  • Vệ sinh răng miệng kém
  • Răng mọc khó sai vị trí, thiếu khoảng

-       Lâm sàng:

Sưng nướu phủ răng nguyên nhân: đau, khít hàm, hơi thở hôi, sốt, mệt, hạch vùng,sờ và thăm dò thám trâm thấy chảy mủ./.

 
CHẨN ĐOÁN NHIỄM SẮC RĂNG

CHẨN ĐOÁN NHIỄM SẮC RĂNG

I.NGUYÊN NHÂN NHIỄM SẮC RĂNG

Màu sắc của răng có thể bị ảnh hưởng bởi một hay nhiều yếu tố kết hợp. Thường có 4 nhóm nguyên nhân chính làm thay đổi màu sắc răng.

1.Chất màu ngoại lai bám vào bề mặt của răng

+ Thức ăn, thức uống

+ Thuốc lá: vết dính vàng nâu, đen tất cả các răng ( nhất là mặt trong)

+ Nhai trầu xỉa thuốc : chứa sắt, thủy ngân tạo màu đen răng

+ Bệnh nghề nghiệp

+ Vi khuẩn tạo màu

2.Sự thay đổi độ dày, cấu trúc răng.

+ Thiểu sản men (enamel hyperplasia):

  • -Vùng khuyết men có màu vàng nhạt hay sậm, đáy cứng, thường gồ ghề không đều, nhiều dạng.
  • -Một răng ( do nguyên nhân tại chỗ) hay nhiều răng (cùng nhóm răng ) hay cả 2 hàm ( do nguyên nhân toàn thân)
  • -Đốm trắng đục trên men : do giảm khoáng hóa ( hypocalcifjcation)

+ Răng nhiễm flour ( dental fluorosis)

+ Bệnh sinh men bất toàn ( Amelogenesis imperfect):

- Nhóm thiểu sản men:

   . Men răng rất mỏng ( ¼ men răng bình thường ), dễ tróc. Di truyền thể trội, 2 hệ răng, khuyết hố, rãnh trên men hoặc trơn nhẵn, màu vàng, về sau trắng đục hay nâu nhạt,thường cắn hở vùng răng trước

    . Không có men ( enamel agenesis ): di truyền thể lặn, bề mặt dạng hạt , khiếng nghiền (ground – glass appearance ), màu vàng

- Nhóm giảm khoáng hóa:

   . Men răng độ dày bình thường, nhưng mềm, có đốm hoặc lỗ chỗ trắng đục hay vàng nâu, hay đỏ cam, đỏ tím, dễ tróc, mòn nhanh, và thường đọng vôi răng, ở cà 2 hệ răng

  . X quang: khó xác định lớp men.

+ Bệnh sinh ngà bất toàn ( dentinogenesis imperfect):

- Óng ánh màu đỏ tía, 2 hàm, hệ răng sữa và hệ răng vĩnh viễn

- Răng mòn rất nhanh và nhiều

- X quang:

    . Mất tương xứng tỉ lệ thân răng / chân răng rõ, thân răng mòn nhiều dạng giống răng sữa, cổ răng thắt lại, chân răng ngắn nhọn.

   .Tủy bị vôi hóa hoàn toàn và sớm ( 12-15 tuổi)

- Di truyền thể trội, có thể kèm sinh xương bất toàn (osteogenesis imperfect)và bất thường khác như mắt xanh (blue selera)…

+ Chứng nguyên hồng cầu bào thai ( erythroblatosis fetalis, e1rythroblastose foetale):

- Màu xanh lá các răng sữa.

- Hệ răng vĩnh viện  bị rất ít nên thường không có vấn đề thẩm mỹ. Đường xanh, nhất là ở răng cửa hàm trên.

+ Sâu men răng : đốm trắng đục, có thể bị nhiễm sắc vàng, nâu, đen

+ Thay đổi mô răng theo tuổi : răng vàng sậm

3. Chất gây nhiễm sắc thấm vào cấu trúc của răng

+ Chất  màu ngoại lai

+ Vật liệu nội nha

+ Sản phẩm của hoại tử tủy: đen

4. Chất màu kết hợp trong quá trình cấu tạo răng

+ Nhiễm tetracycline : vàng nhạt, vàng sậm, xám

+ Nhiễm muối mật : là rối loạn bẩm sinh lien quan đến  sự tăng bilirubine/máu.

+ Porphina bẩm sinh: hiếm gặp, xuất hiện trong trường hợp rối loạn biến dưỡng Porphirin làm răng có màu cam

II. CÁC LOẠI NHIỄM SẮC RĂNG THƯỜNG GẶP:

  1. 1.Nhiễm fluor:

+ Xảy ra ở răng vĩnh viễn lẫn răng sữa nếu hấp thu lượng fluor vươt mức cho phép(trên 1ppm) trong thời kỳ hình thành răng.

+ LS: men răng trắng như phấn, hay lốm đốm và có vết màu nâu, ở 2 hàm R.

+ Thường kèm thiểu sản men.

+ bệnh nhân thường sống ở vùng có  nồng độ flour trong nước cao.

  1. 2.Nhiễm tretracyline:

+ Thuốc tetracycline hòa hợp vào xương, ngà răng trong quá trình tạo xương và tạo ngà.

+ Tetracyline lắng động lại trong ngà răng làm cho ngà răng có màu vàng hay nâu vàng.

+ Thuốc chỉ lắng động trong quá trình tạo ngà, do đómức độ nhiễm sắc trên lâm sang tùy thuộc vào liều và thời gian dung thuốc.

+ Trên lâm sang toàn bộ răng bị nhiễm sắc, từ màu vàng nhạt ở trường hợp nhẹ đến màu xám ở trường hợp nặng.

+ Thường vùng cổ răng màu sậm và nhạt dần về phía bờ cắn hay mặt nhai.

3. Nhiễm sắc do màu ngoại lai:

+ Thường thấy ở vùng cổ răng nơi mà chất màu hòa hợp với mảng bám hay vôi răng.

+ Màu thay đổi tùy theo tác nhân nhiễm màu

+ Ở trẻ em thường thấy vết nhiễm sắc  màu xanh lá ở vùng cổ răng cửa hàm trên, hay vết màu cam lá là do vi khuẩn tạo màu gây nên

+ Ở người lớn thường thấy  vết màu nâu, đen là do thuốc lá, trầu, caffeine.

4.Nhiễm sắc ở từng răng riêng lẻ:

+ Thường thấy ở vùng cổ răng nơi mà chất màu hòa hợp với mảng bám hay vôi răng.

+ Họai tử tủy: răng có màu xám hay nâu đen.

+ Nội tiêu: răng có ánh hồng.

+Tủy calci hóa :răng có màu sẩm hơn các răng còn lại.

 

 
CÁC THỬ NGHIỆM LÂM SÀNG CHẨN ĐOÁN SÂU RĂNG VÀ BỆNH LÝ TỦY – KHỚP RĂNG

 

CÁC THỬ NGHIỆM LÂM SÀNG CHẨN ĐOÁN SÂU RĂNG VÀ BỆNH LÝ TỦY – KHỚP RĂNG

Test dùng chỉ kẽ răng ( dental floss test)

-Dùng chỉ kẽ răng bằng tơ không xe và không nhúng sáp cho vào kẽ giữa 2 răng, kéo theo chiều nhai nướu, thận trọng không làm tổn thương gai nướu.

-Test (+): tua chỉ                   =>SR mặt bên.

                                              → miếng trám dư

Test xịt hơi (  blowing air test):

-Thông dụng, dễ thực hiện, giúp thấy rõ hơn

-Thổi hơi vào răng

-Test (+): nhạy cảm, đau          => Ngà bị lộ/ tủy răng còn sống

                                               →Kiểm tra sự sống của tủy răng

                                              → Phát hiện vị trí ngà bị lộ

                                              →  Phát hiện răng nguyên nhân khi đau thường khó xác định, lan tỏa

Test nạo ngà ( test du curettage dentinaire, cavity preparation test):

-Trường hợp xoang sâu thấy rõ và sờ được, test nạo ngà không gây tê giúp kiểm tra sự sống tủy răng

-Phải làm không xoang trước khi nạo và tránh nạo vào nướu

-Test (+): ngà mềm, BN nhạy cảm đau à răng bị sâu có tủy còn sống

Test điện tủy răng ( Test pulpaire électrique, electric pulp test) :

-Dựa trên phản ứng tủy đối với kích thích dòng điện

-Dùng máy thử tủy ( vitalom ètre électrique, electrical pulp tester)

-Giải thích ngắn gọn cho BN và dặn BN giơ tay báo hiệu ngay khi có kích thích đầu tiên

-Tránh thử trên:

-Cao răng, chất không dẫn điện

-Mảng bám răng

-Bắt đầu thử ở nhóm răng chứng có tủy lành mạnh, để xác định tiêu chuẩn bình thường của R -BN so sánh đối chiếu

-Cô lập răng, lau khô

-Bôi lên đầu điện cực 1 chất điện giải như kem đánh răng, gel dùng trong ECG

-Banh môi hay má BN, áp nhẹ đầu điện cực trên men răng nơi 1/3 nướu hay 1/3 giữa của thân răng lâm sàng ( tùy trường hợp)

-Bắt đầu từ số 0, tăng chậm dòng điện cho đến khi có kích thích thì ngưng thử và đọc kết quả. Để khẳng định, nên làm test lại lần 2

Nếu kết quả có sự khác biệt lớn, phải test lại lần 3. Tuy nhiên, không quá lạm dụng test ( thử không quá 4 lần/ răng ) vì hiệu quả tăng cảm các sợi thần kinh tủy có thể làm sai kết quả.

 -Nếu phải thử trên ngà bị lộ ( do mòn, mài cùi) hoặc trên cement, việc tăng cường độ dòng điện phải chậm hơn bình thường ( do ngà, cement là những chất dẫn điện tốt hơn men nhiều)

-Test (+): răng còn sống (bình thường, viêm tủy cấp, viêm tủy mạn)

- Test (-): răng chết tủy

- Có thể (+) giả, (-) giả

Test gõ răng ( test de percussion, percussion test)

 -Dùng cán dụng cụ gõ lên răng theo chiều ngang và theo chiều dọc

 -Nếu răng đang đau, nên gõ nhẹ hoặc dùng ngón tay gõ nhẹ

 -Gõ từ răng lành đến răng bệnh ( để bệnh nhân làm quen với test)

 -Gõ 1 hay nhiều răng chứng ( để đánh giá ngưỡng nhạy cảm ở mỗi BN)

-Để ý tiếng kêu khi gõ

- Test (+): gõ đau => bệnh lý viêm quanh chân răng cấp tính

Test đường dò ( test du trace’ fistulaire, fistula tract probing test)

-Luồn 1 cône gutta – percha số 25 vào lỗ dò, đẩy nhẹ dọc theo đường dò đến khi cảm giác vướng thì ngừng và chụp phim kiểm tra. Do côn cản quang, nên đường đi, đầu côn trên phim sẽ chỉ ra vị trí và xác định nguồn gốc của sự nhiễm trùng mạn tính

 
Làm gì để phòng ngừa cao răng?

 

Làm gì để phòng ngừa cao răng?

question20mark1

Khi bị cao răng, lúc đầu bạn chỉ cảm giác vùng lợi hơi ngứa, thời gian lâu hơn lợi có thể sưng đỏ, đau, thậm chí phì đại lấp đi một phần của răng... Khi giao tiếp với mọi người bạn cũng không thể tự tin khi hơi thở có mùi không dễ chịu. Vậy phải làm gì để loại trừ những phiền toái do cao răng mang lại?

Mảng bám răng là gì?

Mảng bám răng (hay bựa răng) là một lớp quánh dính, không màu bám trên bề mặt răng. Mảng bám răng sinh ra rất nhanh sau khi vệ sinh răng miệng. Có khoảng 70% trọng lượng của mảng bám là vi khuẩn, tức là trong 1mg mảng bám (bằng kích thước 1 đầu tăm) có chứa tới 1 tỷ vi khuẩn. Đây là tác nhân chủ yếu trong các bệnh sâu răng và quanh chân răng. Khi màng bám răng còn mềm, các bạn có thể làm sạch khỏi bề mặt răng bằng bàn chải hoặc chỉ nha khoa. Nhưng khi nó đã tồn tại lâu trong miệng, nó sẽ trở thành cao răng trở nên cứng, bám rất chắc vào bề mặt răng hoặc nằm khuất dưới mép lợi. Đến lúc này thì chỉ có nha sĩ mới có thể làm sạch được chúng bằng các dụng cụ đặc biệt.

Nên thường xuyên đi khám bác sĩ để phát hiện bệnh về răng miệng.

MCAR9U28VCARS3VQ4CAN6LIBFCA4EFAO4CABGZI1ECA5CEOCWCAKKC008CAFW3EP4CABW48AQCA9MCBB0CAKN55DKCA5U82PSCA71B7IOCAK2Q9ZICAHDLW5PCAUD6SX8CA70XIPYCA14HWEM

Cao răng là gì?

Cao răng (hay vôi răng) là mảng bám đã được vôi hóa bởi hợp chất muối calcium phosphate trong nước bọt. Thông thường mảng bám cần tồn tại trong miệng khoảng 1 tuần để biến thành cao răng. Vì vậy, nếu chúng ta làm vệ sinh răng miệng kĩ và thường xuyên thì cao răng sẽ không còn cơ hội hình thành. Cao răng thường tập trung ở cổ răng, có màu trắng đục, ở những người hút thuốc lá thì cao răng nhuộm màu vàng nâu, gây mất thẩm mỹ.

Cao răng có 2 loại là cao răng thường và cao răng huyết thanh. Cao răng thường như đã mô tả ở trên, khi cao răng thường gây nên viêm lợi tại chỗ, lợi vùng viêm đó sẽ tiết dịch viêm và chảy máu, máu đó ngấm vào cao răng thường tạo nên màu nâu đỏ, lúc này mảng cao răng đó được gọi là cao răng huyết thanh.

Tốc độ tạo cao răng ở mỗi người một khác, sự hình thành của nó bị ảnh hưởng của những thành phần có trong nước bọt, thói quen ăn uống, thói quen vệ sinh răng miệng. Sau khi đánh răng sạch khoảng 48 giờ là thời gian hình thành cao răng nhanh nhất, cao răng có màu nâu hoặc đen.

Tác hại của cao răng

Sự tồn tại của cao răng là một trong những nguyên nhân gây bệnh ở lợi và quanh răng. Cao răng có thể dẫn đến các bệnh như viêm lợi với các biểu hiện đánh răng chảy máu, miệng có mùi hôi. Cao răng cũng có thể gây viêm nha chu dẫn đến tiêu xương làm răng bị đau, ê buốt khi ăn uống, nặng hơn có thể gây lung lay và rụng răng. Ngoài ra, cao răng còn gây ra viêm tủy ngược dòng.

Phương pháp lấy cao răng

Lấy cao răng bằng máy siêu âm là phương pháp hiện đại và tiện nghi nhất hiện nay, vì đạt được mục tiêu lấy cao răng triệt để và cảm giác êm ái cho bệnh nhân. Sóng siêu âm tần số 25kHz, cùng với dòng nước vô khuẩn tác động tập trung lên cao răng làm cao răng bong ra và bị hút theo ống hút nước bọt.

Làm gì để phòng ngừa cao răng?

 

Đánh răng đúng cách. Đây là bước quan trọng nhất trong quá trình chăm sóc sức khỏe răng miệng của bạn. Đánh răng đúng cách là phải làm sạch được tất cả các mặt răng, nhất là mặt kẽ giữa 2 răng và phần ở cổ răng tiếp giáp với bờ lợi. Để làm sạch bề mặt răng ở giáp bờ lợi thì bạn để lông bàn chải nghiêng về phía bờ lợi, tạo thành một góc 450 với trục của răng và đưa đi đưa lại theo chiều ngang. Nhưng mà chải răng theo hướng ngang thì lại không làm sạch được mặt kẽ giữa 2 răng. Vì vậy, để làm sạch ở vùng kẽ răng thì bạn phải chải răng theo hướng xoay tròn hoặc đưa nhẹ từ phía lợi lên phía mặt răng, để làm sạch được mảng bám răng ở vùng kẽ.

Một ngày chải răng 2 lần: sáng và tối trước khi đi ngủ. Bạn nên dùng các loại kem đánh đánh răng có fluoride và các loại nước súc miệng. Sử dụng chỉ tơ nha khoa sẽ giúp loại bỏ các mảng bám trên 2 mặt bên của răng (các kẽ răng), điều mà bàn chải không thể làm được.

Với những người bị lòi chân răng hoặc đeo răng giả, nên sử dụng những chiếc que và bàn chải đặc biệt để loại bỏ các mảng bám trên răng và kích thích lợi. Phải thường xuyên đi khám, phát hiện sớm các thương tổn về răng miệng, thông thường cứ 6 tháng một lần. Các bạn có thể đến các cơ sở chuyên khoa uy tín và chuyên sâu về răng hàm mặt như: Viện Răng hàm mặt, Bệnh viện Răng hàm mặt để khám...

BS. Phạm Hải

 

Sử dụng nguồn tài nguyên y tế
hợp lý và sáng suốt đó là trách nhiệm
của thầy thuốc .

Hãy cho tôi một lời khuyên !

Dr.Viet

0902 115 115

0959 115 115

01998 115115

 

images6

 
Có nên thường xuyên lấy cao răng ?

 

 

Có nên thường xuyên lấy cao răng?

 

ICASQKY5OCAVO7ISHCAFB8EV3CAIFTIROCAFU8LT5CAKAMG5ACAA5BC8WCAGK2H05CA0Q2VTNCA8M304KCAW2CQ32CA1URTLPCAMWCU7ECABFQ58YCA7FKF2MCAHP534ICAHHPE3PCAQ2YGPL

 

Lấy cao răng và làm sạch cao răng không chỉ vì mục đích thẩm mỹ mà còn vì sức khỏe, bởi cao răng chính là "thủ phạm" gây ra phiền toái cho sức khỏe răng miệng.

Khi ăn xong nếu không chải răng ngay, thì khoảng 15 phút sau có một lớp màng mỏng bám trên bề mặt răng gọi là màng bám. Nếu màng bám không được làm sạch, các vi khuẩn bám vào màng này và tích tụ ngày càng dày lên, gọi là mảng bám. Lúc này, các mảnh vụn thức ăn, các chất khoáng trong miệng tiếp tục bám vào mảng bám hình thành nên những mảng cứng bám xung quanh cổ răng gọi là cao răng.

Lấy cao răng cho bệnh nhân tại Bệnh viện đa khoa Vĩnh Phúc. Ảnh: M.Hằng

Cao răng là chất cặn lắng cứng có màu vàng nâu, thường đóng xung quanh cổ răng. Thành phần của cao răng gồm carbonat canxi và phosphate phối hợp với cặn mềm (mảnh vụn thức ăn, các chất khoáng trong môi trường miệng), vi khuẩn, xác các tế bào biểu mô. Ngoài ra, còn có sự lắng đọng sắt của huyết thanh trong máu, nước bọt. Cao răng có thể gây viêm nướu và có mùi hôi.

Cao răng gây ra một số bệnh về răng miệng như:

- Vi khuẩn trong cao răng gây viêm nướu. Phản ứng viêm này gây ra hiện tượng tiêu xương ổ răng, làm cho răng tụt nướu, thân răng ngày càng dài. Vì vậy, người có cao răng có thể có cảm giác ê buốt khó chịu khi ăn uống. Chân răng bị lộ vì không có nướu che chở và răng bị lung lay, quá trình tiêu xương cũng diễn ra nhanh hơn.

- Cao răng có thể gây nên các bệnh viêm nướu, viêm nha chu với các biểu hiện như: đánh răng chảy máu, miệng có mùi hôi, ê buốt khi ăn uống, nặng hơn có thể gây lung lay và rụng răng.

- Vi khuẩn trong mảng cao răng cũng là một trong những nguyên nhân gây ra các bệnh ở niêm mạc miệng (viêm niêm mạc miệng, áp-tơ mà dân gian vẫn gọi là bệnh lở miệng), bệnh ở vùng mũi họng (viêm amidan, viêm họng), bệnh tim mạch.

Do những ảnh hưởng nêu trên, cao răng cần phải được cạo sạch và tốt nhất nên cạo định kỳ 4 - 6 tháng/lần. Có thể cạo cao răng bằng dụng cụ cầm tay hay bằng máy siêu âm. Cạo cao răng bằng máy siêu âm sẽ ít đau, ít chảy máu và sạch hơn. Sau khi cạo cao răng, có thể có cảm giác ê, đau, nhiều hay ít tùy mức chịu đau của mỗi người. Cảm giác ê buốt khi ăn uống nhất là uống nước nóng quá hay lạnh quá có thể kéo dài sau vài ngày rồi hết.

Khởi phát của cao răng là màng bám sau khi ăn không được chải rửa sạch. Vì vậy, để ngăn ngừa cao răng, phải kiểm soát được màng bám, giữ răng luôn sạch sẽ. Sau đây là một số lời khuyên để giữ cho hàm răng chắc khỏe:

- Luôn chải răng sạch sau khi ăn.

- Sử dụng chỉ tơ nha khoa lấy sạch mảnh vụn thức ăn ở kẻ răng.

- Ngậm nước súc miệng có bán sẵn hoặc nước muối pha loãng.

- Kiểm tra răng miệng định kỳ 3 tháng/lần để giải quyết những vấn đề vệ sinh mà bản thân cá nhân không thể tự làm sạch được như: làm sạch ở kẽ răng, ở mặt xa các răng hàm, ở những vùng răng giả. Không nên đợi có cao răng mới đi lấy, vì khi cao răng hình thành thì nó đã gây ra tổn thương và để lại hậu quả.

Bác sĩ Nguyễn Thanh Hòa

 

Sử dụng nguồn tài nguyên y tế
hợp lý và sáng suốt đó là trách nhiệm
của thầy thuốc .

Hãy cho tôi một lời khuyên !

Dr.Viet

0902 115 115

0959 115 115

01998 115115

 

thank-you-021

 

 

 
«Bắt đầuLùi123456789Tiếp theoCuối»

Trang 3 trong tổng số 9